Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành đối với người dự thi vào cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Chuyên đề 1 – Phần 1

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành đối với người dự thi vào cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Chuyên đề 1 : Tính chất, đặc điểm, vị trí, vai trò của mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị ở việt nam.

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành đối với người dự thi vào  cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Chuyên đề 1 - Phần 1
Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành đối với người dự thi vào cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Chuyên đề 1 – Phần 1

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị- xã hội đã có vai trò rất quan trọng trong việc động viên, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đấu tranh thống nhất nước nhà; trong sự hình thành, xây dựng và củng cố Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1].

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCHTW (khóa XI) đã chỉ rõ: “Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên; đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở, phù hợp với trình độ dân trí và đặc điểm, tình hình cụ thể của từng giai tầng xã hội, trong từng giai đoạn cách mạng’’[2].

[1] Hiến Pháp 2013. Điều 9, Mục 1; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015, Điều 1.

[2] Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.

 

Tính chất, đặc điểm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội ở Việt Nam

Hiện nay, có 5 tổ chức chính trị – xã hội, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gồm: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Các tổ chức chính trị – xã hội này là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, là nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.

Tại Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 quy định quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm: 1. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. 2. Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 3. Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. 4. Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. 5. Thực hiện giám sát và phản biện xã hội. 6. Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước. 7. Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là những bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện và hoạt động theo nguyên tắc tự quản, nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của các thành viên, thu hút đông đảo nhân dân vào tham gia quản lý các công việc nhà nước, công việc xã hội, nâng cao tính tích cực của mỗi công dân. Trong xã hội ta, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình không chỉ bằng nhà nước mà còn thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là các tổ chức quần chúng của Đảng, là công cụ để tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng trong các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt trong thời kỳ chưa có chính quyền, Mặt trận và các tổ chức quần chúng của Đảng là các công cụ đắc lực của Đảng để vận động quần chúng, tập hợp, tổ chức quần chúng để tiến hành các đấu tranh cách mạng nhằm giành chính quyền. Khi Đảng giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống dân chủ nhân dân, hệ thống chuyên chính vô sản trước đây, hệ thống chính trị hiện nay tiếp tục phát huy vai trò của mình trong vận động, tập hợp, tổ chức quần chúng tham gia xây dựng Đảng; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị còn là người đại diện cho ý chí, tiếng nói của quần chúng nhân dân, bảo vệ lợi ích hợp pháp và quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Do vậy tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội phải dựa trên ý chí, nguyện vọng của quần chúng, đáp ứng các yêu cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân. Để phục vụ tốt các mục tiêu chính trị, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trước hết phải phục vụ tốt lợi ích của các thành viên của mình, phải thật sự trở thành một tổ chức tự nguyện của nhân dân, hoạt động phù hợp với các yêu cầu của đời sống xã hội, phát triển đất nước nhanh bền.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị ở nước ta là những thiết chế tổ chức vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội và tính nhân dân.

a) Tính chính trị của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

– Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức  chính trị – xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo. Các tổ chức này là hình thức chính trị để Đảng tập hợp quần chúng, vận động, giáo dục và thu hút các lực lượng xã hội vào các phong trào cách mạng, để giải quyết các nhiệm vụ chính trị của Đảng.

– Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là các tổ chức của Đảng nhằm thực hiện đường lối chính trị của Đảng trong các tầng lớp nhân dân. Các tổ chức này có nhiệm vụ, chức năng là đưa đường lối, chính sách của Đảng vào thực tiễn hoạt động thông qua các hình thức tập hợp quần chúng đặc thù.

– Trong mối quan hệ với Nhà nước[1], Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tuy không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng lại có vai trò chi phối, tác động rất lớn đến quá trình thực hiện quyền lực nhà nước. Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, công chức nhà nước.

– Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tính chính trị cần được xác định rõ nét trong quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị.

Chức năng chính trị của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội bao gồm: các hoạt động nhằm góp phần đưa đường lối chính trị của Đảng, luật pháp của Nhà nước vào đời sống xã hội; các hoạt động tham gia vào việc xây dựng và củng cố chính quyền, tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện sự lãnh đạo, quản lý đất nước. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội thể hiện vai trò là cơ sở chính trị của Đảng và Nhà nước; đồng thời là người đại diện chính trị của các tầng lớp nhân dân trong quan hệ với Đảng và Nhà nước.

b) Tính chất xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

– Mặt trận Tổ quốc là tổ chức tập hợp các tổ chức quần chúng, là diễn đàn để đoàn kết và hiệp thương ý chí của các tổ chức quần chúng nhân dân.

– Công đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh là các tổ chức tự nguyện, tập hợp, đoàn kết và đại diện cho tiếng nói, ý chí, lợi ích của các đoàn viên, hội viên trước Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác. Đồng thời, các tổ chức chính trị – xã hội này là tổ chức bảo vệ lợi ích hợp pháp, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của các đoàn viên, hội viên, vì sự phát triển của cộng đồng và xã hội.

 Trong mối quan hệ của toàn bộ hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đều là thành viên của hệ thống chính trị, nhưng bản thân các tổ chức này cũng là thành viên của Mặt trận Tổ quốc.

Mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc với các tổ chức chính trị – xã hội  trong hệ thống chính trị là mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, chủ động phối hợp, thể hiện ở các phương diện sau:

– Về mặt tổ chức, đoàn thể và Mặt trận đều độc lập với nhau về tổ chức. Mỗi tổ chức đều có hệ thống cơ cấu bộ máy riêng, thực hiện những mục đích, tôn chỉ riêng, có điều lệ riêng, có con dấu riêng nhưng đều hành động vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; khác nhau về từng lợi ích riêng của từng tổ chức nhưng thống nhất về lợi ích chung là lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc. Các thành viên trong Mặt trận bàn những công việc chung, công khai thảo luận, trình bày ý kiến nhưng phải tán thành mục đích, tôn chỉ và Điều lệ của Mặt trận, cùng thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của Nhà nước và các chương trình của Mặt trận, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

– Uỷ ban Mặt trận giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với các tổ chức thành viên. Các tổ chức đoàn thể với tư cách là thành viên của Mặt trận có quyền yêu cầu Uỷ ban Mặt trận bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, yêu cầu Uỷ ban Mặt trận cùng cấp tổ chức hiệp thương để phối hợp với các thành viên có liên quan nhằm hưởng ứng sáng kiến của mình về các cuộc vận động nhân dân thực hiện chương trình của Mặt trận. Mặt khác, Uỷ ban Mặt trận trong mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức thành viên thực hiện việc cung cấp thông tin về hoạt động của Uỷ ban mình cho các thành viên; đôn đốc các thành viên thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết dân tộc và tham gia công tác Mặt trận.

– Trong mối quan hệ với Uỷ ban Mặt trận, các tổ chức đoàn thể trong quan hệ chính trị với tư cách là thành viên của Mặt trận có quyền thảo luận, chất vấn, phê bình, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Mặt trận cũng như giới thiệu người để hiệp thương cử vào Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp. Uỷ ban Mặt trận lắng nghe ý kiến thảo luận, chất vấn, phê bình, kiến nghị đó để xem xét, điều chỉnh cho phù hợp nhằm nâng cao chất lượng bộ máy tổ chức và hoạt động của Mặt trận.

– Các đoàn thể trong hệ thống chính trị với tư cách là thành viên của Mặt trận phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Mặt trận trong tổ chức vận động quần chúng nhân dân thực hiện các Chương trình hành động của Mặt trận; cùng với Uỷ ban Mặt trận thảo luận về tình hình và kết quả phối hợp thực hiện chương trình hành động thời gian qua, quyết định chương trình hoạt động của Mặt trận trong thời gian tới.

– Trong quan hệ với Uỷ ban Mặt trận với các tổ chức đoàn thể là thành viên của Mặt trận, Ban Công tác Mặt trận có chức năng thực hiện sự phối hợp và thống nhất hành động với các tổ chức để thực hiện nhiệm vụ như: trực tiếp vận động quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân; động viên nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước, phối hợp thực hiện quy chế dân chủ và hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư.

– Trong cơ cấu thành phần Uỷ ban Mặt trận, người đứng đầu các đoàn thể chính trị – xã hội, thông qua hiệp thương, được cử vào Uỷ ban Mặt trận, nếu trong thực tiễn hoạt động làm trái những quy định và điều lệ của Mặt trận thì tuỳ mức độ sai phạm mà bị khiển trách, cảnh cáo hoặc thôi công nhận là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

– Trong mối quan hệ với tổ chức đoàn thể là thành viên của mình, Uỷ ban Mặt trận tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ các thành viên hoạt động trong khuôn khổ Điều lệ của các thành viên.

Như vậy, mối quan hệ giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức đoàn thể chính trị –  xã hội trong hệ thống chính trị thể hiện sâu sắc tính tôn trọng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau và chủ động phối hợp với nhau, không cản trở nhau, cùng mục đích mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc; thể hiện tính trách nhiệm đối với nhau giữa Uỷ ban Mặt trận với các tổ chức và giữa cá nhân tổ chức với Uỷ ban Mặt trận. Mối quan hệ biểu hiện sâu sắc, phong phú không mang tính chất hành chính nặng nề. Khi bàn bạc các công việc mọi tổ chức đều dân chủ trình bày ý kiến của mình, trao đổi, thuyết phục nhau, không áp đặt, ép buộc, quyết nghị trên cơ sở ý kiến đa số đồng thuận, thống nhất.

Vị trí của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam

Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức quần chúng do Đảng ta thành lập và lãnh đạo, đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội luôn giữ một vị trí, vai trò quan trọng. Ở mỗi một giai đoạn cách mạng, kể cả lúc thăng trầm hay cao trào, lúc chưa có chính quyền và trong điều kiện giành được chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đều là các thành viên chiến lược quan trọng trong hệ thống chính trị. Vị trí này xuất phát từ các yếu tố sau:

Thứ nhất, Mặt trận ngày nay là sự kế tục truyền thống, kinh nghiệm quý báu của Mặt trận dân tộc thống nhất trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như truyền thống của nền chính trị dựa vào sức mạnh của nhân dân. Vị trí của Mặt trận trong giai đoạn hiện nay thực sự là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là yêu cầu phát huy bản chất, nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Thực tế cho thấy, công cuộc đổi mới đất nước từ 1986 đến nay đã tạo ra những tiền đề thực tiễn rất mới mẻ. Cùng với quá trình tranh thủ nội lực, phát huy sức mạnh toàn dân, tư duy mới về chủ nghĩa xã hội ở nước ta, vấn đề phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân để thực hiện mục tiêu chính trị mà Đảng ta đề ra trở thành yêu cầu, đòi hỏi bức xúc trong việc xác lập vị trí, vai trò của Mặt trận. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết, tăng cường nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.

Thứ hai, xét về lý luận và thực tiễn, nếu trong hệ thống chính trị không có Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội thì không còn là tổng thể các lực lượng chính trị được vận hành trong cơ cấu ổn định và cũng có nghĩa là không còn tổng thể các quan hệ chính trị để đảm bảo cơ chế vận hành của cả hệ thống chính trị nhằm phát huy quyền lực nhân dân. Điều này một mặt làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước; không có cơ chế để kiểm soát xu hướng quan liêu hoá, lạm quyền và những tiêu cực khác trong bộ máy Nhà nước; hạn chế việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân và gây ra nhiều khó khăn khác cho hoạt động của hệ thống chính trị. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, trước những quan hệ chính trị – xã hội phức tạp, nhạy cảm của các tổ chức, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nếu chỉ đơn thuần giải quyết bằng thể chế, pháp luật của Nhà nước mà thiếu những biện pháp vận động, thuyết phục, hoà giải, tuyên truyền, hiệp thương của Mặt trận và các tổ chức thì hiệu quả tập hợp lực lượng nhân dân không cao. Do đó, vị trí của Mặt trận và các tổ chức trong hệ thống chính trị xét dưới góc độ khoa học và quan hệ cơ cấu xã hội là một tất yếu khách quan.

Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị còn là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Mọi mục tiêu, cương lĩnh, nguyên tắc hoạt động của Mặt trận đều thể hiện đậm nét những đặc trưng này.

Với tư cách là vị trí chiến lược trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tất yếu sẽ có vai trò to lớn trong hệ thống chính trị. Hiện nay, hệ thống chính trị ở nước ta đang ổn định và tích cực thích ứng với những thay đổi của cơ sở hạ tầng trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn công cuộc đổi mới cũng đang ngày càng làm chuyển đổi, phát sinh những vấn đề mới như các quan hệ xã hội về cơ cấu lao động, phân công lao động, sở hữu và hưởng thụ, tích luỹ và tiêu dùng, nông thôn và thành thị, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội….. Do vậy, một mặt không chỉ kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn mà mặt khác, phải phát huy tính sáng tạo, linh hoạt trong việc huy động tất cả các lực lượng xã hội, các thành phần xã hội thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị

a) Vai trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng” và “giữ chặt mối liên hệ với quần chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng mà nhờ đó Đảng thắng lợi”. Cho nên, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội, với tính cách là sự thể hiện của khối đại đoàn kết toàn dân có vai trò to lớn đối với việc phát huy sức mạnh của Đảng.

“Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; tạo sự đồng thuận xã hội”[2].

Tăng cường sức mạnh của Đảng trên cơ sở khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của Đảng là yêu cầu cấp bách, khách quan trong tình hình hiện nay. Sức mạnh của Đảng chỉ có thể được phát huy cao nhất thông qua việc tăng cường, củng cố mối quan hệ “máu thịt” với nhân dân. Bởi vì, thông qua thực tiễn mối liên hệ giữa quần chúng nhân dân với Đảng, Đảng mới xây dựng được đường lối chính trị đúng đắn làm định hướng cho mọi quá trình phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; Đảng mới phát hiện được những khiếm khuyết trong lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, trong tổ chức và cán bộ của Đảng. Để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng phải xây dựng được bộ máy tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh ở các cấp khác nhau và vận hành thống nhất trong phạm vi cả nước. Với tư cách là cơ sở quần chúng của Đảng, Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội thông qua hoạt động của mình đã góp phần phát huy sức mạnh bộ máy tổ chức Đảng, thể hiện ở các mặt sau:

Phối hợp hành động của các tổ chức thành viên thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng bộ máy, tổ chức Đảng nói riêng. Vận động toàn thể nhân dân phát huy tích cực chính trị của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Đảng; giám sát hoạt động của cấp uỷ Đảng tại địa phương để kịp thời phát hiện những sai sót, khiếm khuyết của cấp uỷ Đảng trong công tác lãnh đạo của địa phương.

Phối hợp hành động của các tổ chức thành viên trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các cuộc vận động lớn của Đảng nhằm xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao uy tín của Đảng trong đời sống chính trị xã hội. Thông qua các phong trào thực tiễn, tuỳ thuộc vào điều kiện đặc thù của tổ chức mình, Mặt trận và các tổ chức thành viên bên cạnh việc giáo dục chính trị- tư tưởng cho đoàn viên, hội viên đã phát hiện và bồi dưỡng những quần chúng ưu tú, tích cực, có năng lực giới thiệu cho Đảng tiến hành kết nạp để tăng số lượng và chất lượng công tác phát triển đảng viên mới của Đảng.

Vai trò lãnh đạo chính trị đòi hỏi Đảng phải nắm vững và làm tốt mặt lãnh đạo, tổ chức công tác thực tiễn. Đảng lãnh đạo bằng tổ chức, bằng đường lối. Đường lối của Đảng thể hiện qua các chủ trương, chính sách của Đảng. Chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; bằng thực tiễn mới kiểm tra được tính đúng đắn, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng. Bởi mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chủ trương, chính sách của Đảng phải được tổng kết từ những sáng kiến và kinh nghiệm của nhân dân phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước. Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội có vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng. Vai trò này thể hiện ở chỗ:

Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội phản ánh ý kiến của nhân dân về các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội cho Đảng để Đảng kịp thời đề ra những chủ trương, chính sách hợp lý trong quá trình lãnh đạo nhằm giải quyết có hiệu quả.

Đối với những chủ trương, chính sách lớn của Đảng ảnh hưởng đến đại bộ phận quần chúng nhân dân, các dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng trước các kỳ Đại hội của Đảng, Mặt trận tiến hành lấy ý kiến của nhân dân để nhân dân công khai góp ý kiến của mình. Mặt trận Tổ quốc các cấp và từng tổ chức đoàn thể tổ chức các Hội nghị để lấy ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân. Thông qua ý kiến đóng góp rộng rãi của quần chúng nhân dân, để Đảng kịp thời điều chỉnh những vấn đề chưa phù hợp, bổ sung những vấn đề còn thiếu sót, đảm bảo tính hiệu quả và giá trị thực tiễn trong các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng khi ban hành.

Không chỉ dừng lại ở việc góp phần xây dựng các chủ trương, chính sách, vai trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội còn thể hiện trong việc đưa đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, thể hiện ở chỗ:

Mặt trận với vai trò là liên minh chính trị rộng rãi, phối hợp sức mạnh của các tổ chức thành viên, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân nhận thức rõ ràng về đường lối, chủ trương, chính sách và các nghị quyết của Đảng. Uỷ ban Mặt trận các cấp tổ chức cho nhân dân học tập, nghiên cứu về các chính sách, nghị quyết của Đảng. Thông qua các hình thức như in ấn phổ biến các tài liệu, thông qua hệ thống cơ quan truyền thông của Mặt trận, thông qua các cuộc thi tìm hiểu, các diễn đàn nhân dân… Mặt trận và các đoàn thể tích cực phổ biến chủ trương, chính sách, các nghị quyết của Đảng vào đời sống nhân dân. Cùng với việc tuyên truyền, phổ biến, Uỷ ban Mặt trận các cấp, phối hợp với chính quyền và các đoàn thể vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng.

Trong quá trình vận động nhân dân thực hiện chủ trương chính sách, nghị quyết của Đảng, thông qua ý kiến quần chúng nhân dân, Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội kịp thời đề xuất với Đảng về những khiếm khuyết trong đường lối, chính sách của Đảng. Đảng tiếp thu xem xét và kịp thời có những giải pháp chỉ đạo linh hoạt để điều chỉnh, làm cho các chính sách của Đảng đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn đời sống nhân dân. Thông qua việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực đời sống xã hội, Đảng rút ra những kinh nghiệm quý báu trong việc đề ra các quyết định cụ thể của mình.

Mặt trận là cơ sở quần chúng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân để làm cho Đảng ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Với vai trò liên minh chính trị “Mặt trận Tổ quốc không đứng ngoài cuộc mà cùng Đảng đồng tâm hiệp lực trong đội ngũ cách mạng kiên cường, khắc phục khó khăn, phấn đấu ổn định tình hình kinh tế – xã hội bằng những hành động cụ thể, nói đi đôi với làm”[3]. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cơ sở sức mạnh của Đảng là sự liên hệ chặt chẽ với nhân dân, Đảng phải biết phát huy trí tuệ của nhân dân trong quá trình lãnh đạo của mình. Toàn Đảng cũng như mọi cán bộ, đảng viên phải “tin vào dân chúng, đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”. Người cho rằng, dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra; “Nghị quyết mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của quần chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức Đảng”. Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội bằng thực tiễn hoạt động của mình, góp phần củng cố và tăng cường mối liên hệ chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng.

Thông qua mối quan hệ chặt chẽ giữa Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội với Đảng, mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với Đảng được củng cố, phát triển; sức mạnh của Đảng được tăng cường. Nhờ đó, nhân dân ngày càng giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng; hăng hái tham gia các phong trào hành động cách mạng,thi đua yêu nước nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

b) Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đối với việc phát huy sức mạnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Sự hình thành và phát triển thể chế Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta là một quá trình liên tục trong tính hậu thuẫn rất lớn của khối đại đoàn kết toàn dân. Sức mạnh Nhà nước chỉ có thể có được dựa trên sức mạnh nhân dân. Điều này cũng khẳng định thêm một luận điểm của Lênin về xây dựng chính quyền: “Chỉ có một chính quyền dựa một cách công nhiên và dứt khoát vào đa số nhân dân mới có thể vững chắc được”[4].

Ngày nay công cuộc đổi mới đang đặt ra những vấn đề cấp bách trong việc nâng cao sức mạnh của Nhà nước về cả thể chế, quan hệ lẫn hoạt động, thể hiện ở một số định hướng cơ bản sau đây:

Nhà nước phải thực hiện tốt hơn nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh quá trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội; đồng thời Nhà nước phải thực sự quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật. Đề cao dân chủ gắn liền với pháp luật là vấn đề nổi bật trong hoạt động quản lý của Nhà nước.

Đổi mới chế độ quản lý, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà nước, gắn với đổi mới phong cách làm việc của đội ngũ công chức Nhà nước.

Bộ máy Nhà nước phải khắc phục cho được những khuyết điểm để có đủ năng lực thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu: thể chế hoá đường lối của Đảng và cơ chế quản lý mới thành pháp luật và chính sách cụ thể, xây dựng chiến lược kinh tế-xã hội và cụ thể hoá những kế hoạch; điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật, chính sách, giữ vững pháp luật, kỷ cương, xây dựng bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, vững mạnh.

Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; chuyển mạnh hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị – kinh tế, mở rộng quan hệ kinh tế, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước trên cơ sở sử dụng sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng và mọi phương tiện cần thiết; nâng cao cảnh giác, đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình” và hành động phá hoại của các lực lượng thù địch.

Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, phát huy sức mạnh của nhân dân trong tham gia xây dựng, củng cố tăng cường sức mạnh Nhà nước.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ, tham gia xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh

 Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ việc đưa ra những nhận thức mới về chế độ xã hội chủ nghĩa, xác định đặc trưng “chế độ ta là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân”[5], Đảng ta ngày càng ý thức đầy đủ hơn về phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực. Vấn đề làm chủ của nhân dân gắn liền mật thiết với xây dựng Nhà nước. Theo định hướng của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiến hành nhiều hình thức và biện pháp thu hút, tổ chức nhân dân tham gia xây dựng Nhà nước thông qua các hình thức sau:

Một là, tham gia tổ chức bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân góp phần nâng cao sức mạnh của cơ quan quyền lực Nhà nước, thể hiện ở chỗ:

– Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hội nghị đại biểu các tổ chức thành viên để hiệp thương, thoả thuận về cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người ở địa phương mình để giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội.

– Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương phối hợp với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cùng cấp thành lập các tổ phụ trách bầu cử và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử cùng cấp để bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp.

– Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, quận, thị xã chủ trì các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, báo cáo giữa ứng cử viên với cử tri trong bầu cử Quốc hội, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, phường, thị trấn chủ trì các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, báo cáo trao đổi giữa ứng cử viên với cử tri trong bầu cử Hội đồng nhân dân để ứng cử viên thực hiện quyền vận động bầu cử, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân tiếp xúc, chất vấn ứng cử viên.

– Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương thực hiện quyền giám sát quá trình bầu cử, giám sát việc giải quyết các tình huống xảy ra trong quá trình bầu cử, đồng thời tích cực tuyên truyền vận động nhân dân đi bỏ phiếu đầy đủ trong ngày bầu cử.

Hai là, tham gia vào hoạt động tư pháp của Nhà nước phát huy sức mạnh của cơ quan tư pháp; thể hiện ở các hoạt động:

– Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trực tiếp tham gia vào hoạt động tư pháp của hệ thống các cơ quan tư pháp bằng hình thức tổ chức hiệp thương với các tổ chức thành viên, giới thiệu những người đủ tiêu chuẩn làm Hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân các cấp. Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu nhân sự để Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cử làm Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tối cao. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương giới thiệu nhân sự cho Hội đồng nhân dân cùng cấp để Hội đồng nhân dân cử làm hội thẩm Toà án nhân dân địa phương.

– Trong phạm vi chức năng của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Toà án, Viện Kiểm sát nhân dân, công an, thanh tra, tư pháp, các cơ quan khác của Nhà nước để phòng ngừa, chống tội phạm và vi phạm pháp luật cũng như tuyên truyền, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật.

Ba là, tham gia vào hoạt động hành pháp của Nhà nước, phát huy sức mạnh của hệ thống các cơ quan quản lý hành chính; thể hiện ở các hoạt động:

– Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Chính phủ để tổ chức và chỉ đạo các phong trào nhân dân thực hiện các nhiệm vụ quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trên quy mô cả nước; tham gia thảo luận trong các kỳ họp của Chính phủ khi bàn về các vấn đề liên quan, các quyết định, các chủ trương công tác lớn của Chính phủ; đồng thời, giám sát hoạt động của Chính phủ.

– Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp ở địa phương phối hợp chặt chẽ với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc động viên tổ chức nhân dân phát huy dân chủ tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; giám sát cán bộ chính quyền, cán bộ các cơ quan Nhà nước, cũng như giám sát hoạt động của chính quyền, giám sát hoạt động các cơ quan Nhà nước ở địa phương.

– Trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, Mặt trận và các đoàn thể đã vận động các tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, đấu tranh chống lại mọi hoạt động chia rẽ, kích động của kẻ thù, hoà giải các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền; tham gia bảo vệ chính quyền.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội vận động, tổ chức nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật

Để điều hành, quản lý đất nước, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau. Công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng trong quản lý là pháp luật, chính sách, kế hoạch nhằm thống nhất quản lý vĩ mô nền kinh tế- xã hội. Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đã góp phần to lớn trong vận động tổ chức nhân dân tham gia xây dựng pháp luật, chính sách và kế hoạch của Nhà nước.

Về xây dựng pháp luật, Mặt trận đã động viên các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ, thông qua các Hội nghị nhân dân cũng như thông qua tiếp xúc cá nhân, tổ chức nhân dân đóng góp ý kiến tham gia sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, các văn bản luật và các văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ, Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thay mặt nhân dân kiến nghị với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, trình các dự án luật, pháp lệnh. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương tổ chức các hội nghị cán bộ chuyên trách của Mặt trận hoặc giữa cán bộ chuyên trách của đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội; tổ chức các hội nghị nhân dân hoặc đại diện các gia đình từng địa bàn dân cư; tổ chức hội nghị những người tiêu biểu trong các dân tộc, các tôn giáo để lấy ý kiến đóng góp vào các dự thảo góp phần xây dựng pháp luật.

Về xây dựng các chính sách, kế hoạch nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thông qua các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, phiên họp của Uỷ ban nhân dân để kiến nghị, thảo luận đóng góp ý kiến và các chính sách, kế hoạch của Nhà nước cũng như chính sách kế hoạch của chính quyền địa phương phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở tổ chức các hình thức hội nghị nhân dân để nhân dân trực tiếp đóng góp ý kiến về chính sách, kế hoạch của Chính phủ cũng như chính quyền địa phương; tổ chức cho các đại biểu lắng nghe ý kiến cử tri về các chính sách, kế hoạch của Nhà nước. Qua đó, đại biểu Quốc hội phản ánh ý kiến của nhân dân trong các kỳ họp Quốc hội trước khi Quốc hội thông qua những chính sách, kế hoạch kinh tế-xã hội của đất nước.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ, tham gia giám sát Nhà nước

– Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội phát hiện những việc làm sai trái của các cơ quan Nhà nước như vi phạm các quyết định về quản lý, vi phạm về tự do, dân chủ của công dân để báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

– Đối với Chính phủ, khi xây dựng, bổ sung, sửa đổi nghị quyết, nghị định của Chính phủ có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến các tầng lớp xã hội mà Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trực tiếp vận động thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi dự thảo văn bản để lấy ý kiến của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các cơ quan chính phủ chủ trì dự thảo có trách nhiệm giải trình những vấn đề nêu trong văn bản khi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam yêu cầu.

– Đối với các cơ quan Nhà nước khác, thủ trưởng các cấp, các ngành có trách nhiệm tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc, Thanh tra nhân dân giám sát việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.

– Mặt trận Tổ quốc cấp xã, phường, thị trấn dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện tiến hành thành lập ban thanh tra nhân dân để giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở.

– Cán bộ, công chức Nhà nước, theo pháp lệnh cán bộ công chức, “là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân”. Mặt trận có chức năng giám sát việc thực hiện nghĩa vụ, quyền hạn của cán bộ công chức Nhà nước kiến nghị những việc làm sai trái của cán bộ công chức Nhà nước tới các cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm giải quyết, xử lý.

– Đối với đại biểu dân cử, mỗi năm ít nhất một lần đại biểu phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Cử tri có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu. Các đại biểu Quốc hội bầu trong một tỉnh hoặc Thành phố trực thuộc Trung ương họp thành đoàn đại biểu giữ mối liên hệ chặt chẽ với Quốc hội, cơ quan chính quyền địa phương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc về các vấn đề liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội. Theo đề nghị của Mặt trận hoặc cử tri, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc đưa ra Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội nếu đại biểu đó không hoàn thành nhiệm vụ và tư cách đại biểu của mình.

Thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc đối với Nhà nước là biện pháp quan trọng góp phần xây dựng, củng cố, hoàn thiện Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ chính quyền.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội vận động các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào quần chúng cùng Nhà nước thực hiện các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững

– Mặt trận và các đoàn thể tuyên truyền, phổ biến nhân dân hiểu biết các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

– Phối hợp cùng các cơ quan Nhà nước tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách vay vốn, xoá đói giảm nghèo, phối hợp cùng Hội đồng nhân dân địa phương triển khai, thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở.

– Tổ chức các cuộc vận động lớn trên quy mô cả nước thu hút sự đồng tình của quần chúng nhân dân nhằm xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh như cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hóa ở khu dân cư”.

– Phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, toàn xã hội cùng lo, Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và thực hiện các chính sách xã hội có hiệu quả.

[1] Quy định rõ tại Điều 7 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015;

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.

[3] Trường Chinh: Về công tác Mặt trận hiện nay, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972, tr 10.

[4] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 21, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr 269.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011), Nxb Sự thật, Hà Nội, 2011.

Xem thêm : 

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1 : Khái quát chung

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1 : Cơ cấu tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta hiện nay

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1 : Thành tựu, hạn chế trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị thời gian qua 

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1 : Quan điểm, mục tiêu và giải pháp tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2 : Nhận thức chung về nền hành chính

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2 : Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2 : Cải cách nền hành chính nhà nước

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2 : Một số nội dung về đẩy mạnh cải cách hành chính trên địa bàn  giai đoạn 2016-2020 theo tinh thần nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 27-4-2016

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- 180 câu trắc nghiệm

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 3 : Cán bộ, công chức và phân định cán bộ với công chức, viên chức.

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 3: Công vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 3: Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức.

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 3: Mục tiêu, nguyên tắc và các nội dung cơ bản của quản lý cán bộ, công chức

Tài liệu ôn tập môn Kiến thức chung kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 3: Những tồn tại, hạn chế và định hướng hoàn thiện trong thời gian tới

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1. Một số vấn đề về đảng cầm quyền.

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1 : Nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1 : Một số vấn đề cơ bản về đảng cộng sản việt nam

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020 – Chuyên đề 1 : Tình hình công tác xây dựng đảng nhiệm kỳ 2010 2015

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 1 : Một số nội dung về nghị quyết trung ương 4 khóa xi về “một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay”

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2 : Những quy định chung.

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2 :Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2 : Mối quan hệ công tác

Tài liệu ôn tập môn nghiệp vụ chuyên ngành kỳ thi công chức kì thi 2020- Chuyên đề 2: Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy

Đọc nhiều tuần qua: